Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Vui mừng chào đón

    0 khách và 0 thành viên
    Gốc > THIÊN TÀI TIN HỌC >

    Thiên tài cùng sự ra đời của sản phẩm

    1. Ada Lovelace lập trình viên đầu tiên của nhân loại
    l1 Ada Bryon, Lady Lovelace có lẽ là một nhân vật thú vị nhất trong lịch sử máy tính. Ada Bryon sinh ngày 10 tháng 12 năm 1815, là con của một nhà thơ nổi tiếng lúc đó là Lord Bryon. Không như mong muốn và sự sắp đặt của bố mẹ mình, Ada không tiếp nối sự nghiệp thơ ca của bố mà lại muốn trở thành một nhà phân tích và siêu hình học (metaphysician).
    Năm 17 tuổi Ada được giới thiệu với Mary Somerville, một người phụ nữ đáng kính làm công tác dịch các bài viết của nhà toán học Laplace sang tiếng Anh. Bà cũng khuyến khích Ada tiếp tục con đường toán học của mình và hướng Ada theo con đường toán ứng dụng. Cũng trong một bữa tối cùng với Somerville tại nhà riêng vào tháng 12 năm 1834 mà Ada đã biết về ý tưởng mới mẻ của Babbage về chiếc máy phân tích.
    Babbage làm việc với chiếc máy mới này và báo cáo về quá trình phát triển trong một hội nghị ở Turin (ý) vào mùa thu năm 1841. Một người ý tên là Menabrea đã tóm lược lại những điều Babbage mô tả và đăng một bài báo bằng tiếng Pháp về quá trình phát triển này. Ada, vào năm 1843, lúc đó đã kết hôn với bá tước Lovelace và đã có ba con nhỏ, đã dịch lại bài báo của Menabrea sang tiếng Anh. Khi đưa cho Babbage xem bản dịch của mình, Babbage đã đề nghị Ada nên đưa vào những ý kiến riêng của bản thân bà. Thế là hai người liên tục trao đổi thư từ qua lại, trong đó họ hào hứng cùng nhau chia xẻ các ý tưởng mới.
    Năm 1843, Ada đăng một bài báo đưa ra những dự đoán của mình về những ứng dụng của chiếc máy phân tích như soạn thảo âm nhạc, vẽ hình, và có thể dùng trong thực tế lẫn trong nghiên cứu khoa học. Và Ada đã đúng ! Ada cũng đã đề nghị Babbage xây dựng một kế hoạch trong đó dùng chiếc máy phân tích của Babbage để tính các con số Bernoulli. Kế hoạch đó, ngày nay được xem là đoạn chương trình máy tính đầu tiên. Sau này, để tưởng nhớ đến công lao của Ada, người ta đã dùng tên của bà để đặt tên cho ngôn ngữ lập trình hướng đối tượng đầu tiên do bộ Quốc phòng Mỹ sáng tạo.
    Sau khi viết bài báo mô tả về chiếc máy phân tích của Babbage, cuộc đời của bà bị chìm đắm trong bệnh tật và bà mất sớm ở độ tuổi 36. Có lẽ Ada đã đi trước thời đại hơn một thế kỷ và đã cống hiến cho nhân loại một tư tưởng thật vĩ đại − tư tưởng về phần mềm máy tính.
    2. Alan Turing và máy tính thông minh

    l2 Alan Turing, nhà toán học người Anh đã thiết kế ra chiếc máy tính điện tử thực sự đầu tiên vào những năm 1940 có lẽ là một trong những người có đóng góp quan trọng nhất trong lịch sử máy tính. Khi còn là sinh viên tại trường đại học Princeton năm 1936, ông đã viết một bài báo tên là ″viết về những con số tính toán (On a compu-table Numbers) ″, một bài báo đã đặt nền tảng lý thuyết cho ngành khoa học máy tính hiện đại ngày nay. Trong bài báo đó, ông đã mô tả một máy ảo Turing cho phép đọc chương trình từ những phiếu đục lỗ và thực hiện tất cả những thao tác nghiêm túc của một máy tính thực sự. Bài báo của ông cũng nêu ra những giới hạn của khoa học máy tính bằng cách đưa ra những minh họa toán học cho thấy có nhiều vấn đề không thể giải quyết bằng bất kỳ kiểu máy tính nào.
    Sau khi nhận học vị Tiến sĩ năm 1938, Turing đã có một cơ hội biến lý thuyết thành hiện thực. Tiên đoán trước sự xâm lăng của quân đội Hitler, chính phủ Anh đã thành lập một nhóm các nhà toán học và kỹ sư trong một nhiệm vụ tối mật nhằm giải các mật mã của quân đội ức Quốc xã. Dưới sự lãnh đạo của Turing và những người khác, nhóm đã xây dựng Colossus, một chiếc máy tính chuyên dụng mà ngày nay được nhiều người xem là chiếc máy tính điện tử số đầu tiên của nhân loại. Kể từ lúc Colossus được hoàn thành năm 1943 cho đến lúc kết thúc chiến tranh, nó đã thành công trong việc giải mã loại mật mã Nazi − một sự kiện mà chính phủ Anh vẫn che dấu rất lâu sau khi chiến tranh kết thúc. Nhiều chuyên gia cho rằng chính Colossus là tác nhân chính gây ra sự sụp đổ của hệ thống mã Nazi.
    Turing đã bước chân vào lĩnh vực trí tuệ nhân tạo với một bài báo được công bố năm 1950 với tựa đề ″Tính toán một cách máy móc và một cách thông minh ″ (Computing Machinery And Intelligence). Trong bài báo này, ông đã đề nghị một phép kiểm tra chặt chẽ để xác định rằng một cái máy tính có thông minh hay không. Vài năm sau, Turing bắt đầu thử thách với vấn đề dùng tính toán để bắt chước khả năng suy nghĩ của con người.Thậm chí ông còn hợp tác với một số tác giả khác để viết ra chương trình đánh cờ.
    Ông mất năm 41 tuổi, vài năm sau đó chính phủ Anh đã chính thức công nhận chiến công của ông trong thời chiến. Bốn thập kỷ sau cái chết của ông, công việc của Turing vẫn còn giúp ích được rất nhiều cho các nhà khoa học máy tính, nhà toán học và triết học. Giải thưởng vinh quang nhất trong ngành công nghệ thông tin, giải thưởng Turing, đã dùng đến tên ông. Nếu ông còn sống trong những thập kỷ đó, chắc hẳn ông sẽ còn đóng góp rất nhiều cho nền khoa học của thế giới.
    3. Ông Trương Trọng Thi − cha đẻ của máy tính cá nhân. 
    l3

     Ông Trương Trọng Thi là người Pháp gốc Việt. Sau khi tốt nghiệp kỹ sư điện tử năm 1959, ông đã làm việc 12 năm trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển ngành điện tử như là một kỹ sư và sau này trở thành một người lãnh đạo nhóm làm việc. Ông đã phát triển những thiết bị trợ giúp cũng như các bộ phân tích cho những nhu cầu phức tạp như nuclear medicine.
    Vào năm 1971, ông thành lập công ty của mình và đặt tên là R2E. Mục tiêu của ông là phát triển một thiết bị phân tích đa kênh (multi-channel analyzer); và điều này đã mở đường dẫn ông tham gia vào một ngành rất mới mẻ vào lúc đó: ngành công nghệ thông tin.
    Năm 1973, tận dụng các ưu điểm của bộ vi xử lý đầu tiên do Intel sản xuất, ông đã cùng nhóm của mình tạo ra chiếc máy vi tính thực sự đầu tiên, được giới thiệu trên quy mô toàn thế giới: Micral. Micral là ″tổ tiên ″ của tất cả mọi thế hệ máy vi tính hiện đại được sử dụng rộng rãi sau này − các máy vi tính cá nhân (PC). Trương Trọng Thi được xem là ″cha đẻ của chiếc máy vi tính ″ và tên của ông cùng chiếc máy Micral được trưng bày vĩnh viễn tại viện bảo tàng máy tính tại Boston.
    Năm 1982, ông từ bỏ R2E để xây dựng một công ty tư vấn, từ đó trở đi ông tiếp tục con đường kỹ sư của mình. Năm 1986, ông tạo ra hệ thống lưu trữ tài liệu điện tử đầu tiên (Electronic Document Storage) và vào năm 1990, ông cũng là người đầu tiên đưa ra chương trình thu nhỏ kích thước của máy tính, thay thế các chiếc máy tính mainframe khổng lồ bằng những chiếc máy tính cá nhân nhỏ gọn.
    Nhận thấy công lao của ông trong việc ứng dụng công nghệ máy vi tính trong việc quản lý giáo dục của Pháp, năm 1988, chính phủ Pháp đã tặng thưởng ông huy chương vàng danh dự vì sự cống hiến cho sự nghiệp giáo dục của quốc gia.
    Tháng 12 năm 1995, ông sáng lập công ty APCT − công ty chuyên về phần mềm và công ty này do ông làm chủ tịch vẫn còn hoạt động cho đến ngày hôm nay. Bạn có thể liên lạc với ông thông qua địa chỉ e-mail: atruong @apct.fr.c-


    Nhắn tin cho tác giả
    Đỗ Văn Cường @ 18:10 10/12/2010
    Số lượt xem: 3303
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến